Tìm hiểu về máu và các bệnh về mạch máu trong cơ thể

Máu, tim và các mạch mà máu được bơm đi khắp cơ thể, cùng nhau tạo nên hệ thống tim mạch. Chúng rất quan trọng để mang chất dinh dưỡng, oxy và chất thải đi khắp cơ thể. Máu được tạo thành từ các tế bào và huyết tương. Một người trưởng thành trung bình có khoảng 5 lít máu trong cơ thể. Ngoài chức năng vận chuyển các tế bào, chất dinh dưỡng, oxy và chất thải, máu cũng giúp điều hòa nhiệt độ cơ thể.

Tế bào máu

Hầu hết các tế bào máu được tạo ra trong tủy xương. Có 3 loại tế bào máu chính:

  • tế bào máu đỏ
  • Tế bào bạch cầu
  • tiểu cầu.

Hồng cầu

Các tế bào hồng cầu vận chuyển oxy từ phổi đến phần còn lại của cơ thể và mang các chất thải đến phổi hoặc thận để thải ra ngoài. Các tế bào hồng cầu chứa hemoglobin, là loại protein cho phép chúng vận chuyển oxy.

Tế bào bạch cầu

Tế bào bạch cầu là một phần của hệ thống miễn dịch. Chúng phát hiện và chống lại nhiễm trùng hoặc các chất lạ xâm nhập vào cơ thể.

Có 5 loại tế bào bạch cầu chính - bạch cầu trung tính, tế bào lympho, bạch cầu đơn nhân, bạch cầu ái toan và bạch cầu ưa bazơ.

Tiểu cầu

Tiểu cầu là những mảnh tế bào nhỏ giúp đông máu. Chúng lưu thông trong máu cho đến khi có tổn thương mạch máu. Sau đó, chúng kết tụ lại với nhau và giúp hình thành cục máu đông tại vị trí bị thương.

Huyết tương

Huyết tương là chất lỏng màu vàng rơm mang các tế bào máu. Nó chiếm khoảng một nửa lượng máu của bạn. Nó cũng mang các chất dinh dưỡng từ chế độ ăn uống của chúng ta như đường, chất béo, protein, vitamin và khoáng chất.

Xét nghiệm máu

Máu của bạn có thể cung cấp thông tin hữu ích về mức độ hoạt động của cơ thể bạn và giúp các bác sĩ kiểm tra một số bệnh và tình trạng. Một số xét nghiệm máu phổ biến là:

  • công thức máu đầy đủ - chỉ số này đo số lượng các loại tế bào khác nhau trong máu của bạn
  • Xét nghiệm đường huyết - phương pháp này đo lượng glucose (đường) trong máu của bạn và có thể được sử dụng để chẩn đoán hoặc theo dõi bệnh tiểu đường
  • Kiểm tra chức năng thận - phương pháp này đo lường các chất trong máu của bạn để xem thận của bạn đang hoạt động tốt như thế nào
  • Xét nghiệm chức năng gan - những xét nghiệm này đo lường các chất trong máu cho biết tế bào gan có bị tổn thương hay không

Nhóm máu

Mỗi người đều có một nhóm máu (nhóm máu) cụ thể, được xác định bởi gen di truyền từ cha mẹ của họ. Các nhóm máu chính là A, B, AB và O. Các bác sĩ kiểm tra nhóm máu của một người trước khi truyền máu hoặc cấy ghép nội tạng , để đảm bảo sự tương thích với nhóm máu của người hiến tặng. Nhóm máu cũng rất quan trọng đối với phụ nữ mang thai để biết họ thuộc nhóm Rhesus nào và nhóm máu của mẹ và con có hợp nhau hay không.

Mạch máu là gì?

Mạch máu là mạng lưới các ống mà máu được bơm đi khắp cơ thể. Cùng với tim và máu, các mạch máu tạo thành hệ thống tim mạch . 3 loại mạch máu chính là:

  • động mạch - những động mạch này mang máu được bơm ra khỏi tim; chúng là những mạch máu lớn nhất và mạnh nhất
  • tĩnh mạch - chúng đưa máu trở lại tim
  • mao mạch - đây là những mạch nhỏ kết nối động mạch và tĩnh mạch. Thành mỏng của chúng cho phép máu tiếp xúc chặt chẽ với các mô để trao đổi oxy, carbon dioxide, chất dinh dưỡng và các chất thải

Máu rời khỏi tim trong các động mạch lớn, sau đó di chuyển qua các động mạch nhỏ dần dần để đến các mao mạch trong các mô. Oxy và chất dinh dưỡng đi qua các thành mao mạch mỏng vào các mô, và các chất thải từ các mô đi vào máu mao mạch. Sau đó, máu rời khỏi các mao mạch và di chuyển vào các tĩnh mạch dần dần trở nên lớn hơn khi chúng đến gần tim hơn.

Khi đến tim, máu đã khử oxy này (máu cần oxy) sẽ đi vào phía bên phải của tim. Từ đó, nó được gửi đến phổi, nơi loại bỏ carbon dioxide và thay thế bằng oxy.

Một số chất thải được các mao mạch chọn lọc từ các mô sẽ được lọc ra khỏi máu khi nó chảy qua thận.

Các bức tường của động mạch mạnh mẽ và đàn hồi, có thể giãn nở và co lại để làm giảm hoặc tăng huyết áp, tùy theo nhu cầu của bạn. Huyết áp là áp lực của máu lên thành động mạch khi tim bơm máu đi khắp cơ thể. Tĩnh mạch có thành mỏng hơn và một số tĩnh mạch (ví dụ ở chân) có van để ngăn dòng chảy ngược của máu do trọng lực.

Các bệnh về máu và mạch máu

Máu và mạch máu có thể bị ảnh hưởng bởi chấn thương thực thể (chấn thương) hoặc bệnh tật, chẳng hạn như ung thư.

Các vấn đề có thể xảy ra với máu bao gồm:

  • thiếu máu - thiếu tế bào hồng cầu hoặc hemoglobin (protein vận chuyển oxy trong máu) làm giảm cung cấp oxy cho các mô
  • đa hồng cầu - tình trạng có quá nhiều tế bào hồng cầu
  • các rối loạn máu khác - trong đó số lượng một số loại tế bào máu quá cao hoặc quá thấp, chẳng hạn như giảm bạch cầu trung tính khi có quá ít bạch cầu trung tính, một loại bạch cầu
  • rối loạn đông máu - nơi máu không đông đủ, dẫn đến xuất huyết hoặc nơi máu đông quá nhiều, dẫn đến huyết khối
  • ung thư ảnh hưởng đến các tế bào máu, ví dụ như bệnh bạch cầu
  • haemochromatosis - nơi rối loạn di truyền dẫn đến quá nhiều sắt trong máu

Các vấn đề có thể xảy ra với mạch máu bao gồm:

  • Xơ vữa động mạch - nơi tích tụ cholesterol trong thành mạch máu dẫn đến thu hẹp. Khi điều này xảy ra trong các mạch máu cung cấp cho tim, nó được gọi là bệnh động mạch vành. Xơ vữa động mạch có thể dẫn đến đau tim và đột quỵ.
  • bệnh mạch máu ngoại vi - điều này liên quan đến các vấn đề với các động mạch bên ngoài tim và não - thường là ở chân và bàn chân - ảnh hưởng đến tuần hoàn. Một trong những nguyên nhân là do xơ vữa động mạch
  • huyết áp cao - theo thời gian huyết áp cao có thể làm hỏng động mạch và thận của bạn
  • Hiện tượng Raynaud - sự co thắt tạm thời của dòng máu đến các ngón tay và ngón chân, khiến chúng trở nên lạnh và có màu xanh hoặc trắng.

Xem thêm

Trang chủ Lên đầu trang